Lịch sử ra đời và hình thành của Co-working Space

Coworking không phải một thuật ngữ mới. Cuốn sách đầu tiên ca ngợi sức mạnh của coworking được xuất bản năm 1628. Tuy nhiên, qua thời gian, khái niệm này đã thay đổi dần, miểu tả việc làm việc độc lập, tự do nhưng cùng với nhau chia sẻ các giá trị chung.

Năm 1995
C-base được thành lập ở Berlin, là một trong những nơi làm việc chung đầu tiên trên thế giới. Năm 2002, khi mạng wifi sẵn có và có thể truy cập internet công cộng miễn phí, đây thường là những nơi có định hướng cộng đồng, cung cấp một địa điểm để mọi người có thể gặp gỡ và làm việc.
Những không gian này được coi là những mô hình đầu tiên của không gian coworking và đã phát triển ra toàn thế giới.

Năm 1999
DeKoven đưa ra từ “coworking” như một cách để xác định phương pháp tạo thuận lợi cho công việc. Ông nhận ra rằng, mọi người và doanh nghiệp quá khác biệt và phân cấp để “làm việc cùng nhau một cách công bằng”.
Phương pháp của ông nhằm hỗ trợ công việc hợp tác thông qua phương pháp tiếp cận phi cạnh tranh, đưa ra cho mọi người cơ hội để làm việc với dự án của chính họ.
Cùng năm đó, 42 West 24 nổi lên ở New York. Không gian này được điều hành bởi một công ty phần mềm và mang đến một môi trường thoải mái với những bàn làm việc linh hoạt cho cá nhân hoặc nhóm.
Mặc dù có thiếu thốn về khía cạnh cộng đồng khi so sánh với nhiều không gian làm việc chung khác, sáng kiến này thực sự đột phá thị trường. Đặc biệt là sau khi bong bóng công nghệ xuất hiện năm 2001, khi các công ty phần mềm mất nhiều khách hàng và nhân viên, 42 West 24 bổ sung các thành viên mới và vẫn vững mạnh (với 50 người làm chung với 32 bàn làm việc). Công ty sáng lập cũng chiếm giữ một phần không gian làm việc tại đây.

Năm 2002
Không gian làm việc chung ở Vienna được mở có tên là Schraubenfabrik, được biết đến như một cộng đồng của các doanh nhân. Sau đó, nó được mở rộng bởi Hutfabrik (Hat Factory, 2004) và Rochuspark (2007).
Những không gian được hoạt động dưới sự bảo trợ của Konnex Communities trở thành cộng đồng địa phương đầu tiên của không gian coworking. Những không gian mới mẻ này đã đem lại cho các nhà máy cũ hơi thở của cuộc sống mới.

Năm 2005
Không gian coworking chính thức đầu tiên được mở tại San Francisco vào ngày 9/8 bởi lập trình viên Brad Neuberg như phản ứng với các trung tâm kinh doanh truyền thống khiến làm việc kém năng suất.
Hoạt động như một tổ chức phi lợi nhuận, tổ chức cung cấp 5 – 8 bàn làm việc, 2 ngày một tuần, wifi miễn phí, cùng với những bữa trưa chung, tập thiền… Không gian này đóng cửa một năm sau đó và được thế chỗ bởi Hat Factory vào năm 2006.
The Hub đầu tiên bắt đầu từ Angel Station ở London. Từ đây, hơn 40 không gian coworking được phát triển bởi mạng lưới nhượng quyền thương mại khắp năm châu. Đây cũng là mạng lưới làm việc chung lớn nhất hiện nay.
Tại Đức, St. Oberholz mở cửa năm 2005 như một trong những quán cà phê ở Berlin cho phép truy cập wifi miễn phí và cho phép mọi người làm việc với laptop của họ.
Quán cà phê và những vị khách cùng tạo ra cuốn sách We call it work (Tạm dịch: Chúng tôi gọi nó là làm việc). Xuất bản năm 2006, cuốn sách chỉ nói về coworking mà còn miêu tả mô hình làm việc mới tạo ra bởi internet và những người thường xuyên làm ở những không gian chung. Cuốn sách thúc đẩy trào lưu coworking ở các nước lớn nhất châu Âu.

Năm 2006
Coworking Wiki bắt đầu tại San Francisco.Một trong những người đồng sáng lập là Chris Messina – người đã tạo ra Twitter Hashtag.
Hat Factory mở một không gian toàn thời gian đầu tiên, gọi là không gian coworking với các nhà sáng lập là Brad Neuberg, Chris Messina và Tara Hunt. Đây là một trong 30 mô hình coworking lớn trên thế giới hiện nay.
Về phản ứng đối với cuốn sách We call it work, một họa sĩ đã đưa ra khái niệm về một không gian coworking gọi là Business Class Net vào năm 2006. Các không gian làm việc chung nằm trong khu triển lãm của ông ở Kreuzberg đã mở vào ngày Lao động trong năm 2007. Đó là không gian coworking đầu tiên của Berlin.

Năm 2007
Lần đầu tiên, thuật ngữ “coworking” được xem như là một xu hướng trên cơ sở dữ liệu của Google. Khái niệm về coworking đã trở thành một phần của truyền thông chính thống ở Hoa Kỳ.
Một trong những không gian coworking đầu tiên được khởi động. Indyhall phát triển một không gian coworking ở Philadelphia mà không có ngân sách nhưng nó lại có được cộng đồng đầu tiên, khoảng 30 người đã sẵn sàng để mua ưu đãi thành viên trước.
Trong tháng 8, các hội nghị đầu tiên thảo luận về các hình thức làm việc mới diễn ra tại Berlin. Cuộc họp được gọi là “9to5”. Một số người tham gia sau này đã thành lập 3 trong số các không gian coworking của thành phố.
Cuối năm, “coworking” có trang riêng của mình trên các phiên bản tiếng Anh của Wikipedia.

Năm 2008
Trong tháng 8, coworking Visa ra đời. Chương trình này là một thỏa thuận tự nguyện giữa nhiều không gian coworking để cho phép các thành viên của các không gian khác ghé đến miễn phí.
Tại Cubes & Crayons, không gian coworking đầu tiên mở ra có các cơ sở vật chất cho trẻ em từ vài tháng tuổi đến trước sinh tiểu học.
Đến cuối năm 2008, có khoảng 160 không gian coworking trên toàn thế giới.

Năm 2009
Cuốn sách đầu tiên về coworking được công bố. I’m Outta Here! How coworking is making the office obsolete là một cuốn sách về những người và địa điểm đã khởi đầu cuộc cách mạng tại nơi làm việc ở Mỹ.
Tại Đức, Betahaus là một trong những nơi chính thức đầu tiên được gọi là “không gian coworking”, mở cửa vào tháng 3/2009. Bởi vì có sự chú ý ngày càng tăng, thuật ngữ “coworking” đã đi vào các phương tiện truyền thông chính thống của Đức.
Một năm sau đó, Đức được biết đến như là quốc gia đầu tiên ở châu Âu sử dụng thuật ngữ “coworking”, theo Google Trends.

Năm 2010
Tổ chức kỷ niệm Coworking Day đầu tiên.
Tại châu Âu, hội nghị coworking đầu tiên tổ chức tại Hub Brussels. Tại thời điểm này, có 600 không gian làm việc chung tồn tại trên thế giới và hơn một nửa là ở Bắc Mỹ.

Năm 2011
Hội thảo mở về coworking đầu tiên được tổ chức tại Austin vào ngày 10/3. Một ngày trước đó, NextSpace cũng thông báo về quỹ đầu tư đầu tiên cho một mạng lưới về không gian coworking.
Năm 2011 cũng chứng kiến nhiều công ty lớn đầu tiên bắt đầu thử nghiệm với các không gian coworking riêng của họ. Kết quả là không gian coworking Modul 57 đã được thành lập bởi một trong những công ty du lịch lớn nhất châu Âu là TUI với trụ sở chính tại Hanover (Đức).
Ngân hàng ING mở ra không gian đầu tiên của họ là Network Orange ở Toronto.

Năm 2012
Trong tháng 10, hơn 2000 không gian coworking được tìm thấy trên toàn thế giới.
Trong cả năm, người sử dụng Twitter gửi 93.000 tweet với hashtag “coworking”. Có một sự tăng trưởng 52% so với năm trước. Xem xét các thuật ngữ tìm kiếm, có và không có hashtag thì có đến hơn 217.000 tweet, trong đó nhắc nhiều nhất là tại các không gian làm việc ở châu Âu.

Năm 2013
Vào đầu năm này, hơn 100.000 người làm việc tại các không gian coworking. Trong tháng 7, 3000 không gian coworking được mở ra.
Có 9 mạng lưới của không gian coworking hoạt động ở tại hơn 5 địa điểm, chẳng hạn như The Hub, NextSpace ở Mỹ hoặc Urban Station ở Mỹ Latin. Kể từ năm 2008, NextSpace thu 2,5 triệu USD với việc mở không gian coworking mới.
Tuy nhiên, phần lớn các không gian coworking hoạt động độc lập với chỉ 1 hoặc 2 địa điểm. Một số trong đó tổ chức các hiệp hội để mang lại giá trị nhiều hơn cho các thành viên của họ. Ví dụ, coworking Ontario đưa ra các kế hoạch bảo hiểm y tế đầu tiên cho không gian coworking vào tháng 8/2013.

Năm 2015 đến nay
Wikipedia cung cấp các bài viết về coworking bằng 23 ngôn ngữ.
Các phong trào coworking tại Úc đang bùng nổ. Các ngành công nghiệp liên quan tại đây đang phát triển và thay đổi. Mô hình này thu hút nhiều ngành và lĩnh vực (startup, làm nghề tự do, kinh doanh nhỏ, chính phủ, doanh nghiệp, giáo dục, bất động sản, kiến trúc, thiết kế không gian, thiết kế nội thất…) tại các địa điểm khác nhau trải dài các trung tâm thương mại, ngoại thành và các khu vực lân cận.